Chào mừng quý vị đến với Website của Trường THCS Nguyễn Huệ (http://violet.vn/thcs-nguyenhue-haiduong).
Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tư liệu của Thư viện về máy tính của mình.
Nếu chưa đăng ký, hãy đăng ký thành viên tại đây hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay ô bên phải.
Bàn về Văn Học

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Đỗ Thạch Tuyến
Ngày gửi: 20h:42' 23-12-2008
Dung lượng: 54.5 KB
Số lượt tải: 17
Nguồn:
Người gửi: Đỗ Thạch Tuyến
Ngày gửi: 20h:42' 23-12-2008
Dung lượng: 54.5 KB
Số lượt tải: 17
Số lượt thích:
0 người
KIẾN NGHỊ VỀ THỰC HIỆN PHÂN PHỐI CHƯƠNG TRÌNH & SÁCH GIÁO KHOA MÔN NGỮ VĂN THCS
I/NHẬN ĐỊNH CHUNG:
Chương trình Ngữ văn THCS có nhiều ưu điểm như thể hiện rõ tính mục đích trong việc hướng đến việc thực hiện mục tiêu chung của nhà trường THCS cũng như ba mục tiêu của bộ môn là mục tiêu kiến thức, mục tiêu kĩ năng và mục tiêu tình cảm – thái độ. Nó cũng thể hiện rõ sự nhất quán trong quan điểm xây dựng và phát triển chương trình, đảm bảo quan điểm khoa học, quan điểm sư phạm và quan điểm thực tiễn. Chương trình tiếp tục xây dựng theo nguyên tắc tích hợp (dọc và ngang): theo yêu cầu tích hợp dọc, chương trình chia thành hai vòng, vòng 1 (lớp 6,7), vòng 2 (lớp 8,9). Một số kiểu văn bản đã học ở vòng 1 được tiếp tục học ở vòng 2 với yêu cầu cao hơn. Theo yêu cầu tích hợp ngang, chương trình lấy các kiểu văn bản đọc làm trục chính để liên kết nội dung học tập ở cả ba phần Văn học, Tiếng Việt và Tập làm văn.
Tuy vậy, khi đi vào cụ thể thể hiện ở sự sắp xếp ở Phân phối chương trình và Sách giáo khoa - đặc biệt xét từ góc độ người dạy và người học – Chương trình không tránh khỏi một số vướng mắc cần được bàn thêm.
II/NHỮNG VƯỚNG MẮC VỀ PHÂN PHỐI CHƯƠNG TRÌNH:
1/Do thiếu thời lượng:
Việc không đủ thời gian giảng dạy để chuyển tải kiến thức ở một số bài học đã tạo ra nhiều khó khăn cho cả người dạy và cả người học.
-Lớp 6:
+Tiết 5: Thánh Gióng (1 tiết)
+Tiết 77: Sông nước Cà Mâu (1 tiết)
-Lớp 7:
+Tiết 17: Sông núi nước Nam, Phò giá về kinh (1 tiết)
+Tiết 121: Ôn tập văn học (1 tiết)
-Lớp 8:
+Tiết 9: Tức nước vỡ bờ (1 tiết)
+Tiết 85: Ngắm trăng, Đi đường (1 tiết)
-Lớp 9:
+Tiết 102: Chuẩn bị hành trang vào thế kỉ mới (1 tiết)
2/Do thừa thời lượng:
Việc thừa thời lượng giảng dạy đối với một bài học cụ thể, trong thực tế, đã tạo ra những lúng túng không cần thiết gây phiền phức cho cả người dạy và người học. Nguyên nhân của việc thừa thời lượng (quá tải về thời gian) là do có hiện tượng một số bài được Bộ GD&ĐT có văn bản điều chỉnh chuyển từ Học chính thức sang Hướng dẫn đọc thêm nhưng lượng thời gian của bài lại vẫn giữ nguyên, không điều chỉnh.
Rơi vào dạng đó có các bài sau:
-Lớp 6:
+Tiết 34, 35: Hướng dẫn đọc thêm: Ông lão đánh cá và con cá vàng.
-Lớp 9:
+Tiết 84, 85: Hướng dẫn đọc thêm: Những đứa trẻ.
+Tiết 111, 112: Hướng dẫn đọc thêm: Con cò.
+Tiết 136, 137: Hướng dẫn đọc thêm: Bến quê.
3/Do phân bố, sắp xếp chưa tối ưu:
a/Về quy trình dạy các kiểu văn bản và phương thức biểu đạt:
Cấu trúc chung của Chương trình quy định khi học kiểu văn bản và phương thức biểu đạt là đi từ đặc điểm của văn bản đến thực hành nói và cuối cùng là thực hành viết. Nhưng ở PPCT, trình tự đó có khi thể hiện chưa rõ. Chẳng hạn:
Lớp 6:
+ Tiết Lời văn, đoạn văn tự sự đặt sau tiết Bài Tập làm văn số 1 (tự sự).
Lớp 7:
+Tiết Cách lập ý của bài văn biểu cảm và Luyện nói – Văn biểu cảm về sự vật, con người đặt sau tiết Bài Tập làm văn số 2 về văn biểu cảm – dù trước đó đã có tiết học về đặc điểm văn bản biểu cảm, đề và cách làm bài văn biểu cảm cũng như luyện tập cách làm văn biểu cảm).
+Tiết Luyện nói – Bài văn giải thích một vấn đề đặt sau tiết Bài Tập làm văn số 6 (lập luận giải thích).
*Ở một góc độ khác nhưng vẫn có liên quan đến quy trình dạy các kiểu văn bản có hiện tượng từ tuần 5 đến tuần 13 học sinh học phần văn biểu cảm (về sự vật, con người) nhưng chương trình chỉ giới thiệu toàn các văn bản thơ. Hai văn bản văn xuôi biểu cảm Sài Gòn tôi yêu và Mùa xuân của tôi lại phải giảng dạy sau tiết Ôn tập văn bản biểu cảm.
Lớp 9:
+Tiết Luyện nói - Nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ đặt sau tiết Bài Tập làm văn số 7.
b/Về trình tự đọc – hiểu tác phẩm:
Nguyên tắc chung của việc cấu trúc
I/NHẬN ĐỊNH CHUNG:
Chương trình Ngữ văn THCS có nhiều ưu điểm như thể hiện rõ tính mục đích trong việc hướng đến việc thực hiện mục tiêu chung của nhà trường THCS cũng như ba mục tiêu của bộ môn là mục tiêu kiến thức, mục tiêu kĩ năng và mục tiêu tình cảm – thái độ. Nó cũng thể hiện rõ sự nhất quán trong quan điểm xây dựng và phát triển chương trình, đảm bảo quan điểm khoa học, quan điểm sư phạm và quan điểm thực tiễn. Chương trình tiếp tục xây dựng theo nguyên tắc tích hợp (dọc và ngang): theo yêu cầu tích hợp dọc, chương trình chia thành hai vòng, vòng 1 (lớp 6,7), vòng 2 (lớp 8,9). Một số kiểu văn bản đã học ở vòng 1 được tiếp tục học ở vòng 2 với yêu cầu cao hơn. Theo yêu cầu tích hợp ngang, chương trình lấy các kiểu văn bản đọc làm trục chính để liên kết nội dung học tập ở cả ba phần Văn học, Tiếng Việt và Tập làm văn.
Tuy vậy, khi đi vào cụ thể thể hiện ở sự sắp xếp ở Phân phối chương trình và Sách giáo khoa - đặc biệt xét từ góc độ người dạy và người học – Chương trình không tránh khỏi một số vướng mắc cần được bàn thêm.
II/NHỮNG VƯỚNG MẮC VỀ PHÂN PHỐI CHƯƠNG TRÌNH:
1/Do thiếu thời lượng:
Việc không đủ thời gian giảng dạy để chuyển tải kiến thức ở một số bài học đã tạo ra nhiều khó khăn cho cả người dạy và cả người học.
-Lớp 6:
+Tiết 5: Thánh Gióng (1 tiết)
+Tiết 77: Sông nước Cà Mâu (1 tiết)
-Lớp 7:
+Tiết 17: Sông núi nước Nam, Phò giá về kinh (1 tiết)
+Tiết 121: Ôn tập văn học (1 tiết)
-Lớp 8:
+Tiết 9: Tức nước vỡ bờ (1 tiết)
+Tiết 85: Ngắm trăng, Đi đường (1 tiết)
-Lớp 9:
+Tiết 102: Chuẩn bị hành trang vào thế kỉ mới (1 tiết)
2/Do thừa thời lượng:
Việc thừa thời lượng giảng dạy đối với một bài học cụ thể, trong thực tế, đã tạo ra những lúng túng không cần thiết gây phiền phức cho cả người dạy và người học. Nguyên nhân của việc thừa thời lượng (quá tải về thời gian) là do có hiện tượng một số bài được Bộ GD&ĐT có văn bản điều chỉnh chuyển từ Học chính thức sang Hướng dẫn đọc thêm nhưng lượng thời gian của bài lại vẫn giữ nguyên, không điều chỉnh.
Rơi vào dạng đó có các bài sau:
-Lớp 6:
+Tiết 34, 35: Hướng dẫn đọc thêm: Ông lão đánh cá và con cá vàng.
-Lớp 9:
+Tiết 84, 85: Hướng dẫn đọc thêm: Những đứa trẻ.
+Tiết 111, 112: Hướng dẫn đọc thêm: Con cò.
+Tiết 136, 137: Hướng dẫn đọc thêm: Bến quê.
3/Do phân bố, sắp xếp chưa tối ưu:
a/Về quy trình dạy các kiểu văn bản và phương thức biểu đạt:
Cấu trúc chung của Chương trình quy định khi học kiểu văn bản và phương thức biểu đạt là đi từ đặc điểm của văn bản đến thực hành nói và cuối cùng là thực hành viết. Nhưng ở PPCT, trình tự đó có khi thể hiện chưa rõ. Chẳng hạn:
Lớp 6:
+ Tiết Lời văn, đoạn văn tự sự đặt sau tiết Bài Tập làm văn số 1 (tự sự).
Lớp 7:
+Tiết Cách lập ý của bài văn biểu cảm và Luyện nói – Văn biểu cảm về sự vật, con người đặt sau tiết Bài Tập làm văn số 2 về văn biểu cảm – dù trước đó đã có tiết học về đặc điểm văn bản biểu cảm, đề và cách làm bài văn biểu cảm cũng như luyện tập cách làm văn biểu cảm).
+Tiết Luyện nói – Bài văn giải thích một vấn đề đặt sau tiết Bài Tập làm văn số 6 (lập luận giải thích).
*Ở một góc độ khác nhưng vẫn có liên quan đến quy trình dạy các kiểu văn bản có hiện tượng từ tuần 5 đến tuần 13 học sinh học phần văn biểu cảm (về sự vật, con người) nhưng chương trình chỉ giới thiệu toàn các văn bản thơ. Hai văn bản văn xuôi biểu cảm Sài Gòn tôi yêu và Mùa xuân của tôi lại phải giảng dạy sau tiết Ôn tập văn bản biểu cảm.
Lớp 9:
+Tiết Luyện nói - Nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ đặt sau tiết Bài Tập làm văn số 7.
b/Về trình tự đọc – hiểu tác phẩm:
Nguyên tắc chung của việc cấu trúc
 






Các ý kiến mới nhất